Hiện tại các nội dung bài viết trên website đã tạm dừng cập nhật. Các kiến thức bạn đang quan tâm trên website này các bạn có thể qua kênh Youtube: https://www.youtube.com/@manhhungdigi/playlists để tìm kiếm kiến thức cập nhật hơn. Bạn cũng có thể tìm kiếm trên Youtube với cú pháp "từ khóa"+ manh hung digi cho nội dung bạn đang cần

Mối quan hệ giữa cân bằng công việc cuộc sống, sự hài lòng công việc và cam kết với tổ chức: trường hợp nhân viên kinh doanh ngành hàng tiêu dùng nhanh trên địa bàn TP.HCM

Cập nhật: 30/09/2026 bởi admin0

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2, đã tổng kết cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu, mối quan hệ giữa các khái niệm, các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu với ba giả giả thuyết liên quan. Tiếp theo chương 3, tác giả sẽ trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm các nội dung: thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, thiết kế bảng câu hỏi và phương pháp phân tích dữ liệu.

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện ở Tp.HCM trong khoảng thời gian từ từ 09/2018 đến 09/2019 nhằm mục đích khảo sát và thu thập dữ liệu mối quan hệ giữa cân bằng công việc cuộc sống, sự hài lòng công việc và cam kết với tổ chức của nhân viên ngành hàng FMCG.

Quy trình nghiên cứu thực hiện qua hai giai đoạn: (1) nghiên cứu định tính nhằm xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với bối cảnh nghiên cứu; (2) nghiên cứu định lượng nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, cũng như ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu.

Trên cơ sở kế thừa và điều chỉnh thang đo của các nghiên cứu trước đây, tác giả đã xây dựng thang đo nháp của từng khái niệm trong mô hình nghiên cứu.

Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính, tác giả hoàn chỉnh thang đo cho các khái niệm trong nghiên cứu bao gồm: cân bằng công việc cuộc sống, cam kết với tổ chức và sự hài lòng công việc của nhân viên kinh doanh ngành hàng FMCG. Từ thang đo chính thức này, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng cách gửi trực tiếp bảng câu hỏi giấy đến đối tượng khảo sát.

Các bước thực hiện nghiên cứu được trình bày như hình 3.1

3.2 Nghiên cứu định tính

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu định tính nhằm hiệu chỉnh thang đo của nghiên cứu trước và xây dựng bảng câu hỏi phù hợp với điều kiện và thực tế công việc của đối tượng nhân viên kinh doanh ngành hàng FMCG trên địa bàn Tp.HCM.

 

Tác giả sử dụng thang đo cam kết với tổ chức dựa trên thang đo của Allen và Meyer (1991), thang đo cân bằng công việc cuộc sống của Brough và cộng sự (2014), thang đo sự hài lòng công việc của Brayfield và Rothe (1951).

Tác giả thực hiện thảo luận nhóm với 02 nhóm đối tượng (chi tiết Phụ lục 2).

  • Nhóm 1: gồm 10 nhân viên kinh doanh đang làm việc tại Công ty TNHH Thực Phẩm Orion Vina, Công ty CP Thực Phẩm Gia Đình AnCo, Công ty TNHH

San Miguel Việt Nam, Công ty Double A Việt Nam, Công ty Vinataba-Philips Morris.

  • Nhóm 2: gồm 07 nhà quản lý ( 03 giám đốc, 03 trưởng bộ phận, 01 giám sát khu vực) đang làm việc tại Công ty Double A Việt Nam, Công ty CP Thực Phẩm Gia

Đình AnCo, Công ty TNHH San Miguel Việt Nam, Công ty TNHH Thực Phẩm Orion Vina.

Nội dung tiến hành thảo luận nhóm được thể hiện (chi tiết tại Phụ lục 3).

– Tác giả giới thiệu về mục đích của buổi thảo luận và một số nội dung sơ bộ của đề tài nghiên cứu. Cung cấp cho những người tham gia thảo luận một dàn bài có gợi ý sẵn các yếu tố về cân bằng công việc cuôc sống, sự hài lòng công việc và cam kết với tổ chức. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên một số thang đo của các nhà nghiên cứu và nêu lý do tác giả chọn sử dụng thang đo cam kết tổ chức của Allen và Meyer (1991), thang đo cân bằng công việc cuộc sống của Brough và cộng sự (2014), thang đo sự hài lòng công việc của Brayfield và Rothe (1951).

  • Các thành viên đã thảo luận từng yếu tố và có ý kiến đối với từng biến. Tác giả đã tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thành viên và ghi chép thành

văn bản thống nhất.

3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính

Sau khi thảo luận, các thành viên thống nhất các nội dung sau:

 

  • Nội dung và ý nghĩa của các yếu tố về cân bằng công việc cuộc sống, sự hài lòng công việc và cam kết với tổ chức: Tất cả mọi thành viên đều đã hiểu ý nghĩa và nội dung của các khái niệm có trong nghiên cứu.
  • Về mô hình nghiên cứu đề xuất: Thống nhất giữ nguyên các thành phần cấu thành nên mô hình và không bổ sung thêm thành phần mới.
  • Về thang đo: thang đo cam kết với tổ chức của Allen và Meyer đã được nhiều tác giả khác sử dụng thành công, các thành viên đồng thống nhất kế thừa nguyên trạng thang đo này và không bổ sung thêm yếu tố mới hay bỏ bớt đi yếu tố nào. Tương tự cho các thang đo cân bằng công việc cuộc sống (Brough và cộng sự, 2014), sự hài lòng công việc (Brayfield và Rothe, 1951) cũng được các thành viên thống nhất kế thừa nguyên trạng thang đo.

Tuy nhiên, để cho dễ hiểu và phù hợp với ngôn ngữ của người Việt Nam, các thành viên đã đề nghị điều chỉnh lại câu từ của một số câu hỏi (biến quan sát), chi tiết như sau:

  • Về yếu tố “ Cam kết vì tình cảm”: Điều chỉnh nội dung của biến “Tôi thích thảo luận về tổ chức của tôi với những người bên ngoài” thành “Tôi thích kể về công ty của tôi với những người bên ngoài”; Điều chỉnh nội dung biến “Tổ chức mà tôi đang làm có ý nghĩa cá nhân quan trọng đối với tôi” thành “Tổ chức mà tôi đang làm có

nhiều ý nghĩa cá nhân đối với tôi”; Điều chỉnh nội dung biến “Tôi không cảm thấy cảm giác mạnh mẽ thuộc về tổ chức này” thành “Tôi có cảm giác mạnh mẽ mình không thuộc về tổ chức này”.

  • Về yếu tố “ Cam kết để duy trì”: Điều chỉnh nội dung biến “Một trong số ít hậu quả nghiêm trọng của việc rời khỏi tổ chức này là sự khan hiếm các lựa chọn thay thế

có sẵn” thành “Nếu rời khỏi tổ chức này thì sẽ không có nhiều sự lựa chọn thay thế có sẵn”.

  • Về yếu tố “ Cam kết vì đạo đức”: Điều chỉnh nội dung biến “Một trong những lý do chính khiến tôi tiếp tục làm việc trong tổ chức này là tôi tin rằng lòng trung thành là quan trọng và do đó cảm thấy nghĩa vụ đạo đức phải duy trì” thành “Lý do khiến

 

tôi ở lại làm việc với tổ chức này là vì tôi tin rằng lòng trung thành là quan trọng và cảm thấy phải có nghĩa vụ đạo đức”.

Hoàn thành thảo luận nhóm, tác giả đã điều chỉnh lại, hoàn thiện thang đo và được trình bày chi tiết theo bảng dưới đây:

3.3 Nghiên cứu định lượng

3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu

Đối tượng khảo sát: nhân viên kinh doanh ngành hàng tiêu dùng nhanh trên địa bàn Tp.HCM.

Xác định kích thước mẫu: cỡ mẫu được xác định dựa vào hai yếu tố là kích thước tối thiểu và số lượng biến đo lường có trong mô hình nghiên cứu. Trong đó kích thước mẫu tối thiểu là 50 hay 100 với tỷ lệ quan sát/biến đo lường là 5/1, tốt nhất là 10/1 nghĩa là 1 biến đo lường cần ít nhất là 5 hay 10 quan sát (theo Hair và cộng sự, 2006). Trong nghiên cứu này, mô hình nghiên cứu có 34 biến quan sát như vậy kích cỡ mẫu tối thiểu là 170, trong nghiên cứu này tác giả sử kích cỡ mẫu là 345. Để đạt được kích thước mẫu đề ra, tác giả thực hiện phát 380 phiếu khảo sát bằng giấy đến trực tiếp nhân viên kinh doanh ngành hàng FMCG trên địa bàn Tp.HCM.

 

3.3.2 Thiết kế bảng câu hỏi

Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát gồm 2 phần:

Phần 1: Thông tin cá nhân

Phần này được thiết kế nhằm mục đích thu thập các thông tin về nhân viên và gạn lọc đối tượng tham gia khảo sát như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, vị trí công tác và thâm niên công tác.

Phần 2: Nội dung khảo sát

Phần này gồm 34 câu hỏi liên quan đề tài nghiên cứu. Các câu hỏi được đánh giá trên thang đo Likert năm điểm để đo lường sự tác động của cân bằng công việc – cuộc sống đến sự hài lòng công việc và cam kết tổ chức của nhân viên kinh doanh ngành hàng tiêu dùng nhanh trên địa bàn Tp.HCM.

Thang đo Likert với 5 mức độ từ 1 đến 5 tương ứng như sau:

1: Hoàn toàn không đồng ý. 2: Không đồng ý.
3: Trung lập (không ý kiến). 4: Đồng ý 5: Hoàn toàn đồng ý.

3.3.3 Thu thập và phương pháp xử lý dữ liệu

Để thu thập dữ liệu, tác giả tiến hành phát trực tiếp bảng khảo sát cho các nhân viên đang làm việc tại các công ty ngành hàng FMCG ở Tp.HCM.

Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS Amos 20.0 với các nội dung sau:

– Phân tích thống kê mô tả

Nhằm cung cấp thông tin tổng quan về mẫu nghiên cứu dựa vào tần suất, tỉ lệ, trung bình, các giá trị lớn nhất nhỏ nhất, các biểu đồ…

  • Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha

Mục đích là để kiểm tra độ tin cậy từng thành phần thang đo. Thang đo đủ điều kiện khi mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha đạt từ 0.6 trở lên. Nếu một biến đo lường

 

có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation) ≥ 0.3 thì biến đó đạt yêu cầu và nếu < 0.3 thì biến đó sẽ bị loại ra khỏi thang đo (Nunnally và Bernstein, 1994 trích từ Nguyễn Đình Thọ, 2013).

– Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Từ kết quả phân tích độ tin cậy để loại bỏ các biến không quan trọng và xác định các biến quan trọng được sử dụng trong bước phân tích tiếp theo mà chủ yếu là phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA).

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng để đánh giá giá trị của thang đo về giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, trong đó xem xét ba thuộc tính quan trọng gồm: (1) số lượng nhân tố trích được, (2) hệ số tải nhân tố và (3) tổng phương sai trích. Nghiên cứu sử dụng phương pháp rút trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax thay vì phương pháp rút trích Principal Components với phép xoay Varimax. Bởi vì phương pháp này phản ánh cấu trúc dữ liệu chính xác hơn các phương pháp khác (Gerbing và Anderson 1988 trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ 2013).

Với tiêu chí chấp nhận là: hệ số tải nhân tố ≥ 0.4 để đảm bảo ý nghĩa thực tế của phân tích nhân tố khám phá trong trường hợp kích thước mẫu từ 250 đến 350 (Hair và ctg, 2010 trích từ Nguyễn Đình Thọ, 2013). Chênh lệch giữa hệ số tải nhân tố lớn nhất và hệ số tải nhân tố bất kỳ phải ≥ 0.3 (Jabnoun và Al-Tamimi, 2003 trích từ Nguyễn Đình Thọ, 2013) để đảm bảo giá trị phân biệt. Đồng thời, tổng phương sai trích ≥ 50% (Gerbing và Anderson, 1988) để đảm bảo giá trị trong nghiên cứu thực tiễn. Bênh cạnh đó, KMO cũng là một chỉ số để xem xét sự thích hợp của EFA, với 0.5 ≤ KMO ≤ 1, nhân tố trích được có Eigenvalue > 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp. Kiểm định Bartlett dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể, nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

– Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

 

Hair và cộng sự (2010) nhận định, CFA được dùng để xem xét biến đo lường đại diện tốt như thế nào cho khái niệm. Đồng thời kiểm tra mức độ phù hợp của mô hình lý thuyết với dữ liệu thực tế. CFA cho phép chúng ta kiểm định cấu trúc lý thuyết của các thang đo lường như mối quan hệ giữa một khái niệm nghiên cứu với các khái niệm khác mà không bị chệch do sai số đo lường (Steenkamp và van Trijp, 1991). Như vậy, phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) sẽ được sử dụng để đo lường giá trị và sự phù hợp của mô hình.

Một số chỉ tiêu được sử dụng như chỉ số Chi-square/df (Cmin/df), chỉ số so sánh sự phù hợp CFI, chỉ số Tucker và Lewis TLI và chỉ số RMSEA để kiểm tra mức độ phù hợp mô hình nghiên cứu. Nếu một mô hình nhận được các giá trị CFI, TLI >=0.9 (Bentler và Bonett, 1980), CMIN/df <= 2, một số trường hợp khác CMIN/df <= 3 (Carmines và Mclver, 1981) và RMSEA <=0.08 (Steiger, 1990) thì mô hình được xem là phù hợp tốt với dữ liệu thị trường (tổng thể) hay tương thích với dữ liệu thị trường (tổng thể).

– Kiểm định mô hình lý thuyết bằng phương pháp phân tích SEM

Để kiểm định mô hình lý thuyết cùng với những giả thuyết, phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trên phần mềm AMOS sẽ được sử dụng. Phương pháp SEM không chỉ liên kết lý thuyết với dữ liệu, nó còn đối chiếu lý thuyết với dữ liệu (Fornell, 1982, trích từ Nguyen, 2002). Chính vì vậy, SEM cho phép các nhà nghiên cứu khám phá những sai số đo lường và hợp nhất những khái niệm trừu tượng và khó phân biệt. Tất cả những mối tương quan được giả thuyết trong mô hình nghiên cứu đều được chứng minh bằng kiểm định mô hình SEM. Đồng thời, khi các hệ số ước lượng chuẩn hoá < 1 và đều có ý nghĩa thống kê (giá trị p < 0.05), có thể kết luận các thang đo lường của các khái niệm trong mô hình đạt giá trị liên hệ lý thuyết.

– Kiểm định bootstrap

Bootstrap là phương pháp lấy mẫu hoàn lại có thay thế, trong đó mẫu ban đầu đóng vai trò là đám đông. Kiểm định này giúp đánh giá độ tin cậy của các ước lượng

33

trong mô hình đánh giá, bằng cách kiểm định xem các hệ số hồi quy trong mô hình SEM có được ước lượng tốt không với số mẫu lặp lại là N = 1000.

Kết quả ước lượng từ 1000 mẫu sẽ được tính trung bình kèm theo độ chệch. Với trị tuyệt đối CR nhỏ so với 2 thì có thể nói là độ chệch là rất nhỏ; đồng thời không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, có nghĩa là các ước lượng trong mô hình có thể tin cậy được.

Tóm tắt chương 3

Chương 3 đã trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, cách thức khảo sát và cách thức xử lý dữ liệu thu về được. Đồng thời cũng đã đưa ra kết quả nghiên cứu định tính và thang đo chính thức được sử dụng trong khảo sát. Thang đo chính gồm 34 biến của các khái niệm có trong mô hình nghiên cứu.

Trang: 1 2 3 4 5 6